Việt Nam Học-Văn Hóa Du Lịch

Việt Nam Học-Văn Hóa Du Lịch
 
Trang ChínhCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 THUYẾT MINH TOUR BUÔN MA THUỘT

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
aibiet
Thành Viên Năng Động
Thành Viên Năng Động
avatar

Tổng số bài gửi : 13
Join date : 15/12/2009

Bài gửiTiêu đề: THUYẾT MINH TOUR BUÔN MA THUỘT   Fri May 28, 2010 8:39 pm

THUYẾT MINH TOUR BUÔN MA THUỘT









Từ Sài Gòn,
bạn có thể gọi điện cho nhiều hãng xe tư nhân lấy chỗ, xe sẽ đưa bạn đến tận
nơi nào bạn yêu cầu ở thành phố Ban Mê Thuột, giá từ khoảng 80 đến trên 130.000





Quốc lộ 14 là
con đường giao thông huyết mạch nối các tỉnh Bắc Trung Bộ với các tỉnh cao
nguyên Nam Trung Bộ và các tỉnh Đông Nam Bộ. Nếu tính về chiều dài (khoảng 890
km) thì đây là quốc lộ dài thứ 2 của Việt Nam, chỉ sau quốc lộ 1A.





Quốc lộ 14
chạy qua địa phận các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Gia
Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Bình Phước.





Điểm đầu: Cầu
Đa Krong, huyện Đa Krong, Quảng Trị.





Lộ trình: TT.A
Lưới (H.A Lưới, Thừa Thiên Huế) – TT.Prao (H.Đông Giang, Quảng Nam) – TT.Khâm
Đức (H.Phước Sơn, Quảng Nam) – TT.Pleikan (H.Ngọc Hồi, Kon Tum – Thị xã Kon
Tum), Kon Tum – Thành phố Pleiku, Gia Lai – Thành phố Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk –
Thị xã Gia Nghĩa, Đăk Nông – Thị xã Đồng Xoài, Bình Phước.





Điểm cuối:
TT.Chơn Thành (H.Chơn Thành, Bình Phước).





Đoạn từ cầu Đa
Krong tới thị xã Kon Tum là đường bê tông nhựa, từ thị xã Kon Tum tới thị trấn
Chơn Thành là đường nhựa.





Giới thiệu


Xưa kia, thủ
phủ của vùng đất cao nguyên này được đặt tại Bản Đôn. Năm 1890, Bourgeois – một
tên thực dân nổi tiếng nham hiểm, sau khi thu phục được Khumjunop, một tù
trưởng, một vua săn voi nổi tiếng ở Bản Đôn đã tiếp tục tìm mọi cách để mua
chuộc tù trưởng Ama Y Thuột nhằm đặt tiền đề cho việc xây dựng một thủ phủ mới
ở đây. Bourgeois đã nhìn thấy tương lai của vùng đất rộng, bằng phẳng và rất
màu mỡ này, 14 năm sau tức năm 1904, thực dân Pháp cho dời thủ phủ từ Bản Đôn
về Buôn Ma Thuột. Ngày 02-11-1904 toàn quyền Đông Dương đã ra Nghị định thành
lập tỉnh Đắk Lắk, đặt tỉnh lỵ tại Buôn Ma Thuột, dưới sự bảo hộ của Khâm sứ
Trung Kỳ. Các công sứ người Pháp, đặc biệt là Sabatier muốn duy trì việc biệt
lập Tây Nguyên. Nhưng do nhu cầu thiết lập cơ sở chính trị, hành chính xã hội
đòi hỏi sự có mặt của các công chức, vì thế bên cạnh người Pháp, người Êđê,
người Kinh đã dần có mặt ngày càng đông, nhất là sau khi có Nghị định ngày
02-07-1923 của toàn quyền Đông Dương về việc thành lập tỉnh Đắk Lắk.


Đó cũng là cơ
sở để đến năm 1928 làng Lạc Giao, một làng người Kinh đầu tiên ở Buôn Ma Thuột
được thành lập. Đây là cái mốc đánh dấu giai đoạn phát triển mới của Buôn Ma
Thuột. Nhờ sự phát triển đó nên ngày 05.06.1930 Khâm sứ Trung Kỳ đã ra Nghị
định thành lập thị xã Buôn Ma Thuột. Sau giải phóng năm 1975 dưới sự chỉ đạo
của Tỉnh ủy Đắk Lắk và Thị ủy Buôn Ma Thuột, cán bộ và nhân dân thị xã Buôn Ma Thuột
đã đoàn kết một lòng, lao động sáng tạo vượt qua mọi khó khăn gian khổ, xây
dựng thị xã ngày càng giàu đẹp, vì thế ngày 21-01-1995 Chính phủ đã ra Nghị
định số 08/CP thành lập thành phố Buôn Ma Thuột trực thuộc tỉnh Đắk Lắk. Ngày
nay tên gọi thành phố Buôn Ma Thuột trở thành quen thuộc, không chỉ ở trong
nước mà còn cả trên thế giới.


Thành phố hôm
nay khang trang to đẹp hơn bởi những công trình mới, kiến trúc mới, từ năm 1995
đến nay nhiều con đường được nâng cấp và mở rộng thêm. Nhiều công trình mới được
xây dựng như Bưu điện tỉnh, Tỉnh ủy, Thành ủy, Nhà văn hóa trung tâm, Đài Phát thanh – truyền hình. Đặc
biệt khu phố mới phía Đông Bắc của thành phố có Trung tâm Thể thao, các toà nhà
cao tầng … Bên cạnh đó, Buôn Ma Thuột vẫn còn giữ nét đặc trưng bởi những kiến
trúc cổ, thường mô phỏng theo kiểu nhà dài của người Ê đê như Biệt điện Đảo
Đại, hay như Tòa Giám mục Buôn Ma Thuột với kiến trúc độc đáo, cũng theo kiểu
nhà dài Ê đê, vật liệu xây dựng hoàn toàn bằng gỗ và ngói vảy tạo nên phong
cách độc đáo Tây Nguyên. Và cuối cùng là Chùa Khải Đoan (Sắc Tứ Khải Đoan tự –
là từ ghép của 2 tên Khải Định và Đoan Huy) được xây dựng từ thời Khải Định.


Để tham quan
và tìm hiểu rộng hơn về văn hóa, lịch sử thành phố Buôn Ma Thuột, chúng ta có
thể thăm Bảo tàng Cách mạng, Bảo tàng Dân tộc, Nhà đày Buôn Ma Thuột, Đình Lạc
Giao hoặc các buôn của đồng bào dân tộc Êđê
như (AKoDhong, Kôsia), chúng ta có thể thưởng thức văn nghệ cồng chiêng
và uống rượu cần với người dân ở đây.





Buôn Ma Thuột
(hay Ban Mê Thuột) là thành phố tỉnh lị của tỉnh Đắk Lắk và là thành phố lớn
nhất ở vùng Tây Nguyên Việt Nam.


Buôn Ma Thuột
gốc tiếng Ê Đê, nghĩa là “bản hoặc làng của Ama Thuột”, nó xuất phát từ tên gọi
buôn của A ma Thuột – tên một vị tù trưởng giàu có và quyền uy nhất vùng; để
rồi từ đây hình thành nên các buôn làng xung quanh, phát triển thành thành phố
Buôn Ma Thuột ngày hôm nay.





Quãng trường Buôn Mê Thuột





Buôn Ma Thuột
ở giữa vùng đông dân nhất Tây Nguyên, độ cao 536 m (1.608 ft). Buôn Ma Thuột
cách Hà Nội 1.410 km, cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km. Là một thành phố có vị
trí chiến lược, đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng.





Đường bộ





Quốc lộ 14 nối
về phía phía bắc đi Pleiku (195 km), đi Kon Tum (244 km), nối với Đà Nẵng, về
phía nam đi ĐăkNông, Bình Phước, Bình Dương, Tp Hồ Chí Minh (350 km).


Quốc lộ 26 đi
Ninh Hòa, Nha Trang (198 km).


Quốc lộ 27 đi
Đà Lạt (193 km).





Đường hàng không


Buôn Ma Thuột
còn có cảng hàng không Buôn Ma Thuột, trực thuộc cụm cảng hàng không miền Nam.
Các tuyến bay gồm có


Buôn Ma Thuột
– Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh


Buôn Ma Thuột
– Sân bay quốc tế Đà Nẵng, Đà Nẵng


Buôn Ma Thuột
– Sân bay quốc tế Nội Bài, Hà Nội





Đặc sản


Rượu cần Ê Đê


Rượu cần hiện
nay được xem là thức uống “đặc sản” của đồng bào Tây Nguyên. Ở mảnh đất đầy nắng,
đầy gió này đã tồn tại những cụm từ nổi tiếng về rượu cần như: Đêm rượu cần,
say ngất ngây như men rượu cần…Vậy đã có bao giờ bạn uống rượu cần Tây Nguyên
chưa? Và đặc biệt, khi nào bạn ngất ngây trong men rượu cần thì khi đó bạn mới
hiểu rượu cần Tây Nguyên đặc biệt thế nào.


Uống rượu cần
là thói quen lâu đời của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Rượu cần là một thức
uống không thể thiếu được trong các lễ hội cũng như dùng để tiếp đãi khách quý.
Nhiều dân tộc Tây Nguyên làm rượu bằng cách dùng nếp cẩm hoặc nếp trắng nấu
thành xôi, phơi bằng nong cho nguội rồi trộn men vào cho ủ kín. Men rượu làm
bằng củ riềng, rễ cam thảo và củ cây chít, phơi khô – sau đó đem giã nhuyễn
thành bột đem trộn với gạo. Cho một ít nước vào rồi nắm lại thành một nắm lớn
bằng cái bát (chén), ủ cho đến khi lên mốc trắng là được. Khi đã lên men, trộn
thêm trấu để sau này dùng cần hút dễ hơn. Tất cả cho vào ché đựng rượu theo
nguyên tắc xếp lớp, cứ một lớp nguyên liệu lại một lớp trấu. Sau cùng người ta
bịt miệng ché bằng lá chuối khô. Rượu ủ ba ngày là có thể dùng được, tuy nhiên
ủ càng lâu rượu càng có độ nồng cao và càng thêm đậm đà. Việc trộn trấu đòi hỏi
cũng cần có tay nghề vì trấu có tác dụng khi cắm cần vào ché rượu, cần rượu
không bị tắc. Rượu ngon là loại rượu có màu vàng đục như mật, khi rót ra dòng
chảy không bị đứt đoạn, sờ vào thấy hơi dính, có mùi thơm ngây ngất, cay nồng
xen lẫn với vị ngọt rất đặc trưng.


Rượu ngon phải
để trong chén quý. Khác với người M/ Nông chỉ dùng ít loại chén, thường là màu
đen toàn thân bóng lộn và có dáng thấp; người Êđê có nhiều loại chén khác nhau
về màu sắc và kích thước. Những chiếc chén Tuk và chén Tang là quý hơn cả, nhất
là loại có màu trắng và màu xanh, thường có từ 3 đến 6 tai và càng to thì càng
quý.


Ngoài ra một
số dân tộc còn có cách làm khác. Không dùng xôi ủ lên men mà dùng gạo rang đem
ủ với men trộn nhiều riềng để có mùi thơm ngon hoặc dùng ngô, sắn là vật liệu
rẻ nhưng loại này dễ bị chua nhưng nếu nấu không khéo dễ bị đắng, gây đau đầu.


Cơm lam








Cơm lam bắt
nguồn từ những chuyến đi rừng dài ngày của người đàn ông với túi gạo mang theo,
dao quắm và đá đánh lửa cùng ống nứa sẵn có trong rừng, vậy mà nay đã trở thành
món đặc sản, “hút hồn” du khách.


Trong hình
dung cảm tính của nhiều người, cơm lam phải là thứ cơm đại loại có mầu xanh của
lá rừng, có hương thơm của cây rừng… nhưng nào chỉ thế. Những ống nứa non thon
nhỏ dài dài như tấm mía ở chợ đã nướng sém lớp vỏ ngoài, được người làm cơm lam
khéo léo róc đi lớp vỏ cật khét lửa, để lộ ra lớp vỏ giữa trắng trẻo thơm tho.
Tước nhẹ từng dải như người bóc chuối chín lớp vỏ giữa đó, là đến phần lõi cơm.
Lõi cơm được bao bọc bởi một lớp vỏ lụa mịn màng, mỏng mảnh, có màu trắng ngà –
thứ vỏ lụa chỉ có trong ruột ống nứa non, khiến cho cơm lam có một nhan sắc rất
đỗi thuần hậu mà ta muốn được nâng niu mãi.


Chỉ là một món
ăn giản dị của núi rừng, gắn với những con suối róc rách đầu nguồn, những nương
lúa chín vàng bên sườn đồi, những vạt rừng tre nứa xanh ngút đầu non và bếp lửa
mùa đông của mẹ, mà sao có thể khiến người đi xa khó nguôi quên đến thế. Cơm
lam cũng khiến người mới gặp lần đầu bỗng ngỡ ngàng trước một món ăn tưởng
không có gì đơn giản, khiêm tốn hơn, mà chứa trong đó biết bao nghệ thuật và ý
tưởng của hạt gạo vùng cao trong mối giao tình với nước, lửa và những ống nứa
non…





Tổng hợp từ daktra.com.vn


Đi
đâu, chơi gì?



Do Buôn Ma
Thuột là nơi đầu tiên người Kinh lưu lạc đến lập nghiệp để xây dựng Đăk Lăk hôm
nay nên ở đây tập trung hầu hết các di tích có ý nghĩa lịch sử của Đăk Lăk như:
Đình Lạc Giao, Chùa Sắc tứ Khải Đoan, Nhà đày Buôn Ma Thuột,Bia Lạc Giao, khu
Biệt điện Bảo Đại – hiện tại là Bảo tàng các dân tộc Việt Nam tại Đắk Lắk, Toà
Giám mục tại Đắk Lắk.


Biệt điện Bảo Đại ở Buôn Ma Thuột


Du khách cũng
có thể đến với làng văn hoá buôn AKô Đhông, ngắm cây Kơnia cổ thụ giữa lòng
thành phố sát Ngã 6 Ban Mê, thưởng thức hương vị cà phê Ban Mê…


Với vị trí
trung tâm và giao thông thuận tiện Buôn Ma Thuột cũng chính là trung tâm du
lịch lớn nhất của Đăk Lăk nối các điểm du lịch quan trọng trong tỉnh như Bản
Đôn, Hồ Lắk, cụm thác Đray Sáp…


Ngã 6 Ban Mê


Ngã 6 Ban Mê
là trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột, nằm trên giao điểm của quốc lộ 14 và quốc
lộ 26 đi qua thành phố. Ở đây có Tượng đài chiến thắng Buôn Ma Thuột được coi
như biểu tượng của thành phố cũng giống như Tháp Eiffel của Paris hay Tượng Nữ
thần Tự do ở New York.





Cây Kơnia cổ thụ





Cây Kơnia, hay
còn gọi là Cốc, Cầy, là một loài cây thân gỗ lớn, cao 15-30 m, đường kính 40-60
cm, tên khoa học là Irvingia malayana, thuộc họ Irvingiaceae. Loài cây này mang
ý nghĩa tâm linh rất lớn đối với người đồng bào dân tộc thiểu số, họ coi chúng
là nơi trú ngụ của thần thánh, của vong linh những người đã khuất, rất ít khi
họ đụng chạm đến chúng, chặt phá chúng; vì vậy trên nương rẫy của đồng bào
thường có các cây Kơ nia cổ thụ được sử dụng như cây che mát mỗi lúc nghỉ giải
lao, nghỉ trưa.


Do bài hát
Bóng cây Kơ-nia nổi tiếng vì vậy du khách khi đến Buôn Ma Thuột luôn muốn tìm
xem tận mắt cây Kơ Nia. Ở trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột có một cây Kơ nia
cổ thụ nằm trong khuôn viên sân sau nhà văn hoá trung tâm tỉnh, cách ngã 6 Ban
Mê vài trăm mét.


Thủ phủ cà phê


Tuy cây cà phê
đã được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm (1870) nhưng được trồng đại trà ở Đắk
Lắk chỉ từ những năm sau 1930 trong những đồn điền của những nhà tư bản Pháp
như CADA, … nhưng do vùng đất đất đỏ bazal này đặc biệt phù hợp với việc canh
tác cà phê nên việc phát triển diện tích trồng ở đây đã tăng lên; hiện tại,
theo số liệu thống kê, Đắk Lắk có đến hơn 175.000 ha cà phê (thực tế có đến
trên 200.000 ha vì một số diện tích không được tính do không trong quy hoạch).


Đắk Lắk cũng
chính là nơi được xem là nơi có năng suất cà phê thu hoạch cao nhất thế giới và
góp phần chính trong việc đưa sản lượng cà phê Việt Nam lên vị trí số 2 (riêng cà phê
robusta chiếm vị trí số 1) của những quốc gia xuất khẩu cà phê.


Ở Đắk Lắk gần
như huyện nào cũng có trồng cà phê, nhưng cà phê Buôn Ma Thuột vẫn luôn được
đánh giá là có chất lượng cao nhất và có hương vị đặc trưng nhất, chính vì vậy
thương hiệu Cà phê Buôn Ma Thuột được thế giới biết đến và địa danh Buôn Ma
Thuột được nhiều người ví như “thủ phủ cà phê”.


Ở Đắk Lắk hiện
tại, một số vấn đề liên quan đến cà phê đã trở bản sắc văn hóa như việc mời đi
uống cà phê đã là một nét văn hoá đặc trưng của vùng này. Mời đi uống cà phê là
một nét văn hóa rất đặc trưng của thành phố Buôn Ma Thuột.


Mời đi uống cà phê.





Ở Đắk Lắk,
việc đi uống cà phê đã trở thành một trào lưu, một phong cách sống. Việc đi
uống cà phê đối với nhiều người ở đây cũng quan trọng giống như ăn cơm, uống
nước hàng ngày. Vì vậy, ở đây câu nói đi uống cà phê đã trở thành câu nói cửa
miệng, thay vì mời đi uống nước, giải khát người ta lại nói là đi uống cà phê.


Chỉ riêng ở
Buôn Ma Thuột, hiện tại quán cà phê nhiều đến nỗi nếu mỗi ngày chỉ cần vào một
quán thôi cũng mất cả năm mới đi giáp một vòng. Các quán cà phê ở đây hầu hết
được xây dựng rất đẹp, cầu kỳ và có phong cách riêng để thu hút khách. Tuy
nhiên hấp dẫn nhất với du khách thường là các quán có phong cách Tây Nguyên như
quán Pơ lang, Thung lũng hồng, Đá Xanh, Chuông đá…





Lễ hội Cà phê





Là một lễ hội
được tổ chức để tôn vinh cây cà phê, một loài cây chiếm vị trí độc tôn trong cơ
cấu cây trồng ở đây. Lễ hội mới chỉ bắt đầu được tổ chức từ năm 2005 trong
chương trình quảng bá hình ảnh Thủ phủ Cà phê Buôn Ma Thuột của tỉnh Đắk lắk.
Lễ hội được nhà nước công nhận và cho phép tổ chức đều đặn hàng năm.





Buôn AKô Đhông


Buôn AKô Đhông
hay Buôn Cô Thôn, làng Ma Rin là một buôn làng người Ê Đê ở thành phố Buôn Ma
Thuột, Đăk Lăk.


AKô Đhông theo
tiếng Ê Đê có nghĩa là buôn đầu nguồn vì nó ở đầu nguồn một con suối lớn ở Buôn
Ma Thuột là suối Ea Nuôl. Ở đây nguồn suối bắt đầu cũng chính là bến nước cũ
của buôn, một bến nước rất đẹp nhưng hiện tại không còn được sử dụng do bị ô
nhiễm vì ở ngay trung tâm thành phố.


Buôn nằm ở
cuối đường Trần Nhật Duật- thành phố Buôn Ma Thuột. Đây là một buôn lớn có lịch
sử lâu đời được quy hoạch rất đẹp và giữ được nhiều giá trị truyền thống , hiện
tại là một điểm du lịch hấp dẫn của thành phố. Nằm trong quy hoạch khu trưng
bày lịch sử của Buôn Ma Thuột.

















Hồ Lak





Chặng đường từ
Ban Mê đến Lak khoảng bảy tám mươi cây số nên phương tiện di chuyển tối ưu là ô
tô. Trên đường đi, mọi người sẽ phát hiện ra một điều rằng các địa danh ở đây
khá là… khó đọc, tỷ dụ như: Ea K’Mat, Krông Búc, Cư M’Gar, Ea H’Leo, Chư Lê
M’Nga….


Nếu muốn hỏi
thăm đường nơi đây, mọi người nên nhớ là cần phải phát âm cho chuẩn nếu không
thì đồng bào chẳng thể đoán được hoặc nhiều khi làm đồng bào hiểu lầm sang từ
khác có thể gây cười hoặc dẫn đến đổ máu cũng nên!





Rẫy bắp bên hồ





Một điều thú
vị nữa là dọc đường không thấy cây café hay tiêu mà thay vào đó là lúa nước.
Hỏi ra mới biết rằng đất huyện Lak là đất pha cát, lại thêm có nguồn nước tự
nhiên là hồ Lak nên rất tốt cho việc trồng lúa. Đây chính là vựa thóc nuôi sống
cả tỉnh Dak Lak với năng suất đáng mơ ước là mười tấn trên một hecta.


Thỉnh thoảng
trên đồng lúa lại thấy chình ình một tảng đá hình thù kì dị khi thì giống con
voi nằm, khi thì giống con trâu đứng. Những tảng đá này lạ ở chỗ mỗi năm chúng
lại…to ra một ít! Dân bản địa cho rằng đó là những tảng đá thiêng nên không ai
dám… nung vôi như người ta từng làm.





Thuyền độc mộc trên hồ





Cuối cùng thì
cũng đến nơi. Ra đón đoàn là một nụ hoa cao nguyên dạt dào hương sắc: bé
Thương. Theo lời những người già thì đất trời sơn cước này rất hợp với phụ nữ.
Các thiếu nữ ở đây đẹp một cách tinh khôi mà mặn mà như ánh mặt trời cao nguyên
phản chiếu qua giọt sương mai đọng trên nụ hoa đồng nội. Dường như nắng gió
vùng sơn cước này như một chất vitamin thiên phú ưu ái riêng cho ngườiphụ nữ
khiến họ đẹp một vẻ rất riêng, không thể nhầm lẫn với bất kỳ nơi nào khác.


Ai muốn phóng
tầm mắt chiêm ngưỡng toàn cảnh hồ Lak thì không có chốn nào tốt hơn là đến biệt
điện Bảo Đại. Những ai ham đi du lịch cũng có thể biết rằng ông vua cuối cùng
của nước Nam này có dinh thự rải khắp từ trong Vũng Tàu, ra đến Nha Trang, lên
tới Đà Lạt, cho đến tận giữa trung tâm ban Mê và ở ngay tại nơi hắn đang đứng,
hồ Lak. Đứng từ biệt điện, du khách mới có thể cảm nhận hết sự rộng lớn của hồ
Lak. Đây là hồ tự nhiên lớn nhất Việt Nam, rộng trên năm trăm hecta, rất
lắm cá và là nguồn cung cấp nước cũng như thuỷ sản cho cả một vùng rộng lớn trù
phú của tỉnh Dak Lak.


Đặc sản nổi
tiếng nhất của vùng hồ này là cá thát lát. Đây là loài cá nhỏ, mình dài và dẹt
nhưng làm chả thì ăn…quên chết. Chả cá thát lát ăn vừa thơm vừa ngọt thịt.
Trong đêmcao nguyên se lạnh được một đĩa chả này cũng một chai rượu đế thì có
thể coi là hạnh phúc trên cõi trần đã đạt đến độ viên mãn! Trong nắng sớm,hồ
Lak như một viên ngọc lam xanh biếc ẩn hiện sau những cây tùng cổ thụ. Để lên
đến ngôi biệt điện xinh xắn xây theo lối kiến trúc vùng Alpes này,du khách cần
trải qua một đoạn đường uốn quanh mềm mại, hai bên trồng nhiều cây hoa đại.
Cảnh trí nên thơ, mang chút hơi hướng Tây phương mà không lạc lõng, phóng
khoáng mà không phô trương. Đây quả thật là nơi nghỉ dưỡng lý tưởng cho bậc
vương giả.


Trên đường vào
Buôn Jun có cái biển đề “Le lac du Lak”. Buôn Jun nằm ở ven hồ, là nơi sinh
sống của ba dân tộc Ê Đê, M’Nông và Việt.Nhà sàn ở đây không khác mấy so với
Buôn Đôn nhưng có một điểm đặc biệt ở bậc thang lên xuống. Có hai thanh gỗ làm
bậc cho hai tộc người cùng lên xuống một ngôi nhà. Bậc thang dành cho người
M’Nông thì không mấy đặc biệt vì nó chỉ là một thanh gỗ trên đó đẽo những bậc
lên xuống. Còn bậc thang cho người Ê Đê thì có thêm hai cái núm. Khách khi lên
xuống nhà theo bậc thang đấy đều phải xoa vào hai cái núm đó để bày tỏ sự…tôn
trọng chủ nhân ngôi nhà! Quý vị nên ghi nhớ lấy điều này, đừng vì chút ngại
ngùng mà gây mất thiện cảm của đồng bào.


Cảm giác đi
thuyền trên hồ Lak khác hẳn cảm giác đi trên hồ Đại Lải hay trên lòng hồ Hoà
Bình. Ở đây, du khách vừa có thể thưởng lãm cảnh quan, vừa có thể cảm nhận được
hơi thở cuộc sống của cư dân quanh hồ. Hồ Lak giống như một hoạ phẩm tuyệt mỹ
do một hoạ sỹ điều sắc tài ba vẽ nên: nước hồ xanh thẳm một màu lam ngọc; vòm
trời cao xanh ngắt điểm vài áng mây xốp nhẹ trôi lờ lững; những sườn đồi ven hồ
xanh non một màu của cây bắp; đây đó, vài tán cây kơ nia duyên dáng soi bóng
xuống mặt hồ; thỉnh thoảng một dáng người gầy guộc thoăn thoắt chèo chiếcthuyền
độc mộc mỏng manh như một nét chấm phá tạo nên sự toàn bích của bức tranh.


sưu tầm
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
THUYẾT MINH TOUR BUÔN MA THUỘT
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Tóm tắt lý thuyết và bài tập kỹ thuật điện
» Thác Trắng - Minh Long - Quảng Ngãi
» Basic Ship Theory - Lý thuyết tàu cơ bản
» Lý thuyết Điều khiển tự động
» Bài bình luận của thuyền trưởng Tiếu Văn Kinh

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Việt Nam Học-Văn Hóa Du Lịch :: Tài Liệu Và Kiến Thức Du Lịch :: Tài Liệu Thuyết Minh Các Chuyên Đề-
Chuyển đến